Có một thời, doanh nhân Việt chỉ đơn giản là những người “làm để sống”, chắt chiu từng cơ hội nhỏ để nuôi gia đình và tồn tại. Rồi một lớp doanh nhân từ Đông Âu trở về tận dụng cơ hội với bất động sản để tích tụ tư bản… Còn giờ đây, họ là niềm hy vọng cho một Việt Nam tự lực, tự cường, tự chủ.
Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi về doanh nhân Việt Nam từ những ngày đầu thời kỳ Đổi mới cho đến thế hệ hiện tại, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan hào hứng chia sẻ về bước ngoặt của kinh tế tư nhân (KTTN), về khát vọng dân tộc của những tập đoàn tư nhân khởi đầu ở Việt Nam với “bước đệm bất động sản”.
Tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 1966, bà Phạm Chi Lan gắn bó với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho tới khi nghỉ hưu với vị trí Phó Chủ tịch. Chuyên gia kinh tế này cũng tham gia và chứng kiến hầu hết những bước ngoặt lớn về kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong gần 40 năm Đổi mới, trong đó có 10 năm là thành viên Tổ Tư vấn / Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (1996-2006).
Gắn bó với những chính sách quan trọng từ những ngày đầu của Đổi mới, bà Lan đã đi cùng với kinh tế tư nhân Việt Nam từ những ngày còn là con số 0 tròn trĩnh cho đến khi được thừa nhận là động lực quan trọng nhất của kinh tế Việt Nam.
Từ tư duy ‘mưu sinh’
đến ‘go global’
Theo quan sát của bà, thay đổi quan trọng về tư duy giữa những doanh nhân từ những ngày đầu Đổi mới và thế hệ doanh nhân mới hiện nay là gì?
Tôi quan sát thấy một sự chuyển dịch vô cùng quan trọng: Đó là sự thay đổi từ tư duy “mưu sinh” sang “cạnh tranh toàn cầu”.
Ở thế hệ doanh nhân đầu tiên thời kỳ Đổi mới, động lực lớn nhất của họ đơn giản là làm để sống, làm cho mình và cho gia đình mình. Họ khởi nghiệp từ những công việc rất khiêm tốn. Như anh em ông Trần Lệ Nguyên của Kinh Đô, ban đầu chỉ là đi chở bột thuê cho người làm bánh, vừa làm vừa học nghề mới mở được cái xưởng bé, rồi phát triển thành thương hiệu Kinh Đô nổi tiếng.
Hay ông Thái Tuấn Chí của dệt Thái Tuấn cũng bắt đầu bằng nghề chở vải thuê từ nhà máy ra các chợ đầu mối trước khi lập nên công ty dệt tư nhân hàng đầu. Ngay cả ông chủ của Thiên Long cũng đi lên từ việc bơm mực bút bi, mà nay sản phẩm của họ đã có những dòng cao cấp giá cả trăm đô la, sản xuất cả cho các thương hiệu bút danh tiếng thế giới. Điểm chung của họ là xuất phát từ nhu cầu sống sót.
Nhưng thế hệ doanh nhân ngày nay, đặc biệt là các bạn trẻ, đã mang một tầm vóc khác hẳn. Phương châm của họ bây giờ là “go global” – tư duy cạnh tranh toàn cầu.
Tại sao lại có sự thay đổi này? Bởi đất nước đã ra khỏi ngưỡng nghèo, môi trường kinh doanh đã cải thiện, xuất phát điểm của họ tốt hơn hẳn thế hệ cha anh họ. Và từ 30 năm nay, thị trường nội địa 100 triệu dân đã không còn là sân chơi riêng của các doanh nghiệp Việt, mà luôn có rất nhiều đối thủ mạnh.
Với việc tham gia ASEAN/AFTA (1995), ký BTA với Mỹ (2001), gia nhập WTO (2007) và ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) sau này, hàng hóa từ Đông Nam Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Úc, Mỹ, châu Âu và các nơi khác trên thế giới có thể tràn vào thị trường Việt Nam rất nhanh, có những sản phẩm chỉ cần ra mắt một tháng là đã có mặt tại Việt Nam.
Trên thị trường này, không có sự phân chia theo biên giới, theo ‘hạng cân’ hay độ tuổi; già trẻ, lớn bé, mạnh yếu đều phải đấu chung trên một đấu trường, một chiến trường, đó là thương trường.
Chính vì thế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam bây giờ muốn đi ra thị trường quốc tế, không chỉ cạnh tranh trong nước. Một phần vì nhu cầu và sức mua của thị trường nội địa có hạn, phần khác vì họ nhận ra mình cũng có những lợi thế cạnh tranh ở bên ngoài. Doanh nghiệp nước ngoài biết khai thác thị trường mình, thì mình cũng phải biết khai thác thị trường của họ chứ, nhất là khi bao hiệp định thương mại đã mở đường cho mình!
Cái hay của thế hệ mới là họ không chỉ đi ra ngoài bằng sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn bằng chất lượng và các chuẩn mực quốc tế mới, mà còn bằng cả ý tưởng và mô hình kinh doanh. Họ không còn bị bó hẹp trong ranh giới địa lý hay mục tiêu cơm áo gạo tiền đơn thuần, mà đang khẳng định bản sắc và trí tuệ Việt trên bản đồ kinh doanh toàn cầu.
Muốn Việt Nam vươn mình,
phải để người Việt làm chủ đất nước
Bà từng chia sẻ rằng ‘Thánh Gióng’ muốn xuất hiện ở khu vực tư nhân cần được ủng hộ bởi thể chế và cộng đồng thì mới có thể vươn vai lớn dậy. Theo bà, những thay đổi về thể chế với kinh tế tư nhân thời gian gần đây có thể đem lại bước ngoặt thực sự hay không?
Một trong những điều thú vị nhất của Việt Nam giai đoạn này là: với Nghị quyết 68, kinh tế tư nhân đã chính thức được thừa nhận vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Mặc dù về bản chất, như ở hầu hết các nước khác, kinh tế tư nhân vẫn là động lực quan trọng nhất, phải là động lực quan trọng nhất, và ở nước ta KTTN đã đóng vai trò động lực quan trọng từ lâu rồi.
Thực tế, vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đã được nói từ Nghị quyết 10 năm 2017. Song dù trong các văn bản chính thức, mỗi lần lại thêm một hai từ đẹp hơn cho kinh tế tư nhân, nhưng hầu hết không thực sự được thi hành. Phải đến Nghị quyết 68 thì kể cả bằng văn bản cũng như bằng thực tiễn, Đảng và Nhà nước mới thực sự thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân.
Thực tiễn là ngay sau khi ban hành Nghị quyết 68, Thủ tướng mời nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân Việt lớn đến, chào mời họ tham gia một loạt các dự án trọng điểm của quốc gia, mà dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam là một điển hình, cùng nhiều dự án hạ tầng rất lớn khác.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà lãnh đạo làm như vậy. Trước đấy, tất cả dự án hạ tầng lớn nhỏ của quốc gia thường chỉ dành cho các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hoặc nhà thầu từ nước cung cấp ODA. Doanh nghiệp tư nhân Việt chỉ là nhà thầu phụ, làm thuê cho các nhà thầu chính thống.
Một trong những điều thú vị nhất của Việt Nam giai đoạn này là: Với Nghị quyết 68, kinh tế tư nhân đã chính thức được thừa nhận vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Chuyên gia Phạm Chi Lan
Nhưng liệu các doanh nghiệp Việt Nam đã sẵn sàng để tham gia và làm chủ các dự án khổng lồ như cao tốc Bắc – Nam hay các công trình hạ tầng quy quy mô quốc gia khác hay chưa, khi trước đây họ vẫn bị đánh giá là chưa đủ năng lực?
Đúng là dự án như Đường sắt cao tốc Bắc – Nam thì cực kỳ lớn, phức tạp và tốn kém, vượt quá khả năng của một doanh nghiệp đơn lẻ. Nhưng điều quan trọng là lần này người Việt Nam có cơ hội làm chủ dự án trên chính đất nước mình.
Nếu theo phương án cách đây gần 10 năm, dự án có thể sẽ do các tập đoàn Nhật Bản liên danh thực hiện bằng nguồn vốn ODA khoảng 57 tỷ USD. Khi đó doanh nghiệp Việt Nam phần lớn chỉ có cơ hội tham gia với vai trò cung cấp lao động hoặc nhà thầu phụ.
Còn bây giờ, nếu tổ chức tốt, hoàn toàn có thể hình thành các liên danh giữa mấy doanh nghiệp tư nhân trong nước với nhau, hoặc với cả DNNN và FDI. Trường Hải hợp lực với Hòa Phát, Đèo Cả, Sơn Hải…với sự tham gia của các đơn vị công nghệ như Viettel, FPT… làm được chứ! Công nghệ hiện đại nào cần thiết thì có thể mời chuyên gia, đối tác quốc tế, nhưng quyền làm chủ dự án vẫn phải nằm trong tay người Việt Nam.
Trước đây, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chủ yếu chỉ có thể đứng phía sau với vai trò nhà thầu phụ, mà chi phí ‘bôi trơn’ để được làm cũng không hề nhỏ. Họ trực tiếp thi công, đóng góp vào công trình, nộp thuế, nhưng phần lớn giá trị và công lao lại được ghi nhận cho nhà thầu chính. Vì vậy mới có tình trạng một tuyến đường bị chia nhỏ cho nhiều nhà thầu phụ, mỗi đơn vị làm một đoạn, chất lượng không đồng đều, đồng thời năng lực thực sự của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam nhiều khi bị che lấp.
Ví dụ hồi đưa ra dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam, chia làm 8 đoạn, mỗi đoạn trung bình chỉ 60 km mà Bộ Giao thông vẫn cho rằng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không đủ năng lực. Nhưng tại sao lại nói họ không đủ năng lực? Vì các quy định thường yêu cầu nhà thầu phải có đủ vốn, đủ thiết bị, đủ nhân lực và kinh nghiệm.
Trong khi trên thực tế, thiếu vốn có thể vay ngân hàng, thiết bị có thể thuê, doanh nghiệp hoàn toàn có thể liên danh với nhau để tăng năng lực. Trên thế giới người người ta vẫn làm như vậy, không ai bắt một doanh nghiệp phải tự mình có đủ tất cả mọi thứ. Còn kinh nghiệm thì phải để cho người ta làm thì mới có kinh nghiệm chứ, hay chí ít phải thừa nhận người ta đã làm nhiều việc rất giỏi mà lâu nay các cơ quan cứ cố tình lờ đi.
Thực tế bây giờ cho thấy khi cơ chế được mở ra, doanh nghiệp tư nhân hưởng ứng rất nhanh. Trường Hải, Hòa Phát đang nhanh chóng đầu tư cho phần của họ trong đại dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, Vinspeed đang tăng mạnh đầu tư nguồn lực cho các dự án hạ tầng lớn khác, còn Đèo Cả vẫn đang đảm nhiệm bao nhiêu con đường hầm mà không đơn vị nào, kể cả DNNN hay FDI làm giỏi bằng họ…
Khi Nhà nước mở cơ chế và đặt niềm tin vào doanh nghiệp trong nước, tinh thần phát huy nội lực và khả năng tự lực tự cường sẽ nổi lên rất mạnh. Muốn “vươn mình” thì phải tự mình vươn lên, chứ không thể cứ mãi dựa vào người khác. Quan trọng nhất là cuối cùng, dù chúng ta vẫn cần học hỏi và hợp tác với FDI, thì đã đến lúc người Việt Nam có thể làm chủ được các công trình trên đất nước mình, có thể tự tay xây dựng được nền tảng cho sự phát triển của đất nước, quê hương.
Từ ‘bước đệm bất động sản’
đến khát vọng dân tộc
Với những doanh nghiệp tư nhân đầu tàu của Việt Nam hiện nay, theo quan sát của bà, điểm tích cực nổi bật nhất của họ là gì?
Tôi thấy một khát vọng phát triển rất lớn mà không phải chỉ cho họ. Có những dự án thực sự đòi hỏi tinh thần dân tộc rất cao thì mới dám làm. Vingroup làm ô tô là một ví dụ.
Làm ô tô cực kỳ khó, đầy rủi ro, nhất là cho những người đi sau với tiềm lực rất khiêm tốn so với các đại gia toàn cầu, hơn nữa lại ở một quốc gia chưa công nghiệp hóa, còn thiếu thốn bao nhiêu thứ cần thiết cho ngành công nghiệp cao cấp này. Ông Phạm Nhật Vượng có hiểu điều đó không? Ông ấy hiểu chứ. Trên thế giới chỉ có mấy tập đoàn sản xuất ô tô lớn, và chủ yếu ở các nước phát triển cao. Thế mà ông Vượng dám làm ô tô, dám đánh cược cả sự nghiệp của mình với VinFast.
Thú thật là ban đầu, tôi cũng ngạc nhiên lắm, không hiểu nổi khi thấy ông Vượng quyết định làm ô tô. Nhưng về sau, sự hoài nghi trong tôi đã được giải tỏa, phần lớn là nhờ một người bạn mà tôi rất quý trọng là anh Võ Quang Huệ.
Anh Huệ đã từng có hàng chục năm làm việc ở các hãng ô tô lớn của Đức như BMW, Mercedes. Khi đó anh đã về nước, đang là Tổng giám đốc Bosch Việt Nam, rất thành công khi đưa Bosch từ chỗ chỉ có 200 nhân sự lên đến 4.000 người, hoàn toàn do người Việt điều hành, và biến nơi đây thành một trong những cứ điểm quan trọng nhất của tập đoàn này trên toàn cầu. Vậy mà khi ông Vượng mời, anh Huệ đã chấp nhận rời bỏ vị trí đó để về VinFast.
Anh Huệ kể với tôi: “Tôi nhận lời dù biết đây là một thách thức cực kỳ lớn, vì quả thực tôi bị thuyết phục bởi tinh thần dân tộc của ông Vượng”. Anh chia sẻ, dù bản thân đang làm thuê cho nước ngoài, nhưng khao khát muốn giúp đất nước mình, người Việt mình phát triển vẫn luôn là động lực lớn nhất trong anh. Khi gặp được một người Việt có cùng khát vọng và tinh thần dân tộc mạnh mẽ như vậy, anh sẵn sàng chung tay. Cuốn hồi ký “Dặm đường tôi đi” anh Huệ đưa ra năm 2024 đã kể phần nào câu chuyện dường như không tưởng về sự ra đời của VinFast.
Sau này, tôi cũng tình cờ gặp một số bạn trẻ làm việc tại VinFast. Khi tôi hỏi, các em đều khẳng định điều đầu tiên chinh phục họ chính là tinh thần yêu nước của nhà lãnh đạo, khát vọng của công ty, chứ không phải tiền lương hay đãi ngộ. Ở đó quy chế khắt khe lắm, đòi hỏi rất cao, tuyển nhanh mà nghỉ cũng nhanh nếu không đáp ứng được công việc. Nhưng chính cái tinh thần dân tộc, muốn xây dựng một hệ thống làm việc và có sản phẩm thật tốt để tạo danh tiếng cho người Việt đã chinh phục được bao người và trở thành một động lực mạnh mẽ.
Như kinh nghiệm từ các Chaebol Hàn Quốc hay các tập đoàn ở Singapore, Malaysia, bất động sản chỉ là bước đệm để tích tụ tư bản. Khi đã có tiềm lực tài chính đủ mạnh, khát vọng thực sự của họ mới lộ diện. Bước ngoặt chuyển sang làm VinFast là một minh chứng về khát vọng đó.
Chuyên gia Phạm Chi Lan
Vậy bà nghĩ gì về việc không ít doanh nghiệp tư nhân lớn, tăng trưởng và phát triển rất nhanh nhờ bất động sản như Vingroup?
Tôi từng băn khoăn rất nhiều khi thấy một số tập đoàn tư nhân lớn của Việt Nam nổi lên chủ yếu dựa vào bất động sản chứ không phải công nghiệp hay công nghệ. Nhưng khi ngẫm nghĩ lại quá trình phát triển của họ, tôi nhận ra một thực tế nghiệt ngã: Vào thời điểm họ bắt đầu, làm gì có cơ hội nào cho tư nhân làm công nghiệp hay công nghệ ở nước ta!
Lúc bấy giờ, các ngành công nghiệp và dịch vụ lớn, có giá trị thương mại cao, đều nằm trong tay DNNN hoặc bị khối FDI chiếm lĩnh. Các bộ ngành, chính quyền các địa phương thì ủng hộ hai khối này và có cái nhìn khá nghi ngại, kỳ thị với tư nhân. Quyền kinh doanh – một thứ quyền rất cơ bản của công dân – hoàn toàn do Nhà nước ban phát, mà nhiều cơ quan Nhà nước lúc đó không hề muốn trao quyền tham gia những lĩnh vực ấy cho tư nhân.
Vậy tại sao họ lại làm được bất động sản? Thực tế là khối ngoại không mặn mà vì cơ chế đất đai của ta lúc đó thường chỉ cho DN quyền sử dụng 30-50 năm, mà vẫn có thể bị nhà nước thu hồi “vì lợi ích quốc gia” khá mơ hồ, còn thủ tục thì quá rườm rà, phức tạp. Khi trao đổi với tôi, một số nhà đầu tư nước ngoài cho biết, với cơ chế đó thì không bõ công sức, chi phí và rủi ro để xin và làm dự án.
Còn các DNNN thì cũng chẳng thiết tha, vì họ rất dễ xin đất và đang có quá nhiều mảng khác ngon ăn hơn. Nhìn vào những khu đô thị đầu tiên sau Đổi mới ở Hà Nội như Trung Hòa – Nhân Chính do DNNN làm, chúng ta thấy ngay sự hạn chế: dù được tiếp cận đất dễ dàng với nhiều ưu đãi lớn, họ không thực hiện đúng cam kết về mật độ xây dựng, hạ tầng, trường học, y tế, mà chỉ tập trung xây nhà để bán, với chất lượng xây dựng và dịch vụ không cao mà giá bán không hề rẻ.
Chính cái ngách hẹp mà cả khối ngoại lẫn DNNN bỏ ngỏ hoặc làm không tốt trong khi nhu cầu nhà ở của dân cư đô thị ở nước ta rất lớn đã trở thành cơ hội cho những người như ông Vượng hay ông Lam (Lê Viết Lam, người sáng lập Sun Group) khi từ Liên Xô cũ trở về. Họ đi vào con đường bất động sản để tích lũy vốn ban đầu, vì đó là cửa duy nhất để họ gây dựng cơ đồ và lớn mạnh.
Nhưng điều quan trọng là gì? Như kinh nghiệm từ các Chaebol Hàn Quốc hay các tập đoàn ở Singapore, Malaysia, bất động sản chỉ là bước đệm để tích tụ tư bản. Khi đã có tiềm lực tài chính đủ mạnh, khát vọng lớn hơn của họ mới lộ diện.
Bước ngoặt chuyển sang làm VinFast là một minh chứng về khát vọng đó của Vingroup. Sau khi đã đầu tư xây dựng hàng loạt dẫy nhà cao tầng cho đối tượng trung lưu, họ đã làm thêm những cái khác. Vinschool, VinMec, VinMart, VinEco… có thể coi là chuỗi Vin tiếp theo để cho các khu đô thị mới của Vin hoàn hảo, dịch vụ thuận tiện và đa dạng hơn, cạnh tranh hơn, tạo nên mô hình khu đô thị hoàn chỉnh ở Hà Nội, với đẳng cấp khác hẳn các khu chung cư thời trước.
Nhưng không dừng ở đó, ông Vượng đã quyết định dùng nguồn vốn tích lũy được từ bất động sản để làm một cái gì đó thực sự, tạo dựng danh tiếng cho người Việt trên bản đồ công nghiệp thế giới. Và ông làm VinFast. Đó là con đường vươn lên với khát vọng lớn của bản thân ông cùng tinh thần dân tộc mà chúng ta cần nhìn nhận một cách công bằng.
Thực hiện: Quỳnh Anh – Hoàng Ly
Thiết kế: Quỳnh Anh – Hương Xuân | Ảnh: Việt Hùng
Nguồn: An ninh tiền tệ
