Tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam thay đổi cách thức tạo tăng trưởng

15 mins read
Tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam thay đổi cách thức tạo tăng trưởng
Lạc Nguyên

Lạc Nguyên

[email protected]

(TBTCO) – Tại hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030” diễn ra ngày 17/8, các ý kiến cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, chuyển từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang nâng cao năng suất, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn lực.

aa

Hội thảo do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, Bộ Tài chính tổ chức trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 54/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 31/2021/QH15 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quốc Anh – Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, Bộ Tài chính cho rằng giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển nhanh, bền vững.

Tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam thay đổi cách thức tạo tăng trưởng
Ông Nguyễn Quốc Anh – Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, Bộ Tài chính chia sẻ tại Hội thảo. Ảnh: Lạc Nguyên

Theo ông Quốc Anh, giai đoạn 2021 – 2025, dù đối mặt với nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn giữ vững các cân đối lớn, ổn định kinh tế vĩ mô và đạt những kết quả quan trọng trong thực hiện các nghị quyết, kế hoạch và cơ cấu lại nền kinh tế. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình tăng trưởng cũng bộc lộ rõ khi tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động; việc huy động và sử dụng vốn chưa đạt hiệu quả cao, trong khi đóng góp của khoa học công nghệ và năng suất chưa tương xứng.

Dư địa của một số động lực truyền thống đang ngày càng thu hẹp, trong khi cạnh tranh quốc tế hiện dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, năng suất lao động và khả năng tham gia các chuỗi giá trị.

Do đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là câu chuyện về tốc độ mà quan trọng hơn là cách thức tạo ra tăng trưởng, dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả.

Nhìn từ kết quả cơ cấu lại nền kinh tế, bà Lê Thị Mai Liên – Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo cho biết, cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 đã chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ khoảng 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 12,7% xuống 11,6%.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực quan trọng. Năm 2025, giá trị tăng thêm của ngành tăng gần 10%, đóng góp khoảng 32% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng trên 8%, đóng góp hơn 51% vào tăng trưởng.

“Xét về cơ cấu kinh tế, Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào lao động và khai thác tài nguyên sang mô hình dựa nhiều hơn vào công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ” – bà Liên nhận định.

Tuy nhiên, bà Liên cho rằng thay đổi về cơ cấu ngành chưa đồng nghĩa với nâng cao chất lượng tăng trưởng. Điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở năng suất lao động. Năm 2025, năng suất lao động tăng khoảng 6,83%, đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, nhưng bình quân giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng khoảng 5,2%, thấp hơn mục tiêu đề ra.

Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi muốn tăng trưởng ở mức hai con số thì năng suất lao động phải tăng nhanh hơn đáng kể.

Đối với kinh tế số, mục tiêu đặt ra là tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 20% GDP. Tuy nhiên, đến cuối kỳ, tỷ trọng này mới đạt hơn 14%, cho thấy dư địa phát triển kinh tế số trong thời gian tới vẫn còn rất lớn. Năm 2025, gần 300.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường nhưng cũng có trên 220.000 doanh nghiệp rút lui. Theo bà Liên, điều này cho thấy khả năng tồn tại, mở rộng quy mô và nâng cao năng suất của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế, nhất là khu vực tư nhân trong nước còn thiếu những doanh nghiệp lớn có năng lực công nghệ và khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Từ thực tế này, bà Liên cho rằng giai đoạn 2026-2030 cần chuyển từ cơ cấu lại nền kinh tế sang nâng cao chất lượng cơ cấu, trong đó tập trung vào thể chế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cấp công nghiệp chế biến, chế tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Ông Nguyễn Quốc Anh cũng cho rằng, cần làm mới các động lực truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và khai thác tốt hơn những không gian phát triển mới, nhất là kinh tế tư nhân chất lượng cao, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành có năng suất, giá trị gia tăng cao.

Cần để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng. Không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ mới mà phải tạo ra những đột phá về công nghệ, năng suất, năng lực cạnh tranh và năng lực sản xuất.

Theo bà Lê Thị Mai Liên, để tạo động lực mới cho tăng trưởng, Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang dựa vào năng suất; từ lợi thế lao động giá rẻ sang công nghệ và nhân lực chất lượng cao; từ thu hút FDI theo số lượng sang thu hút theo chất lượng, gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời chuyển từ tăng trưởng nhanh đơn thuần sang tăng trưởng xanh, bao trùm và có khả năng chống chịu cao hơn.

Như vậy, bài toán tăng trưởng trong giai đoạn 2026 -2030 không chỉ là tăng thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việt Nam sẽ khó đạt tăng trưởng hai con số nếu tiếp tục chủ yếu dựa vào tăng vốn, lao động và mở rộng đầu tư, mà cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực./.

Lạc Nguyên

Cùng chủ đề: Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững “2 con số” giai đoạn 2026 – 2030

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Từng đồng ngân sách chi tiêu đều phải tính đến hiệu quả

Muốn tăng trưởng cao, nền kinh tế phải “đổi cách chạy”

Xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất

Tăng trưởng không chỉ cần thêm nguồn lực, mà phải tạo thêm giá trị

Tiếp sức cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh phát triển

Dành cho bạn

Ngày 20/8: Giá cà phê tiếp tục khởi sắc, hồ tiêu ở mức 139.000 đồng/kg

Ngày 20/8: Giá cà phê tiếp tục khởi sắc, hồ tiêu ở mức 139.000 đồng/kg

“Hoàn thuế trước, kiểm tra sau” – khơi thông dòng tiền cho doanh nghiệp

Điểm sáng đấu tranh chống buôn lậu, ma túy qua đường hàng không

Điểm sáng đấu tranh chống buôn lậu, ma túy qua đường hàng không

Doanh nghiệp thủy sản, giày dép gặp khó vì C/O

Doanh nghiệp thủy sản, giày dép gặp khó vì C/O

Tăng hậu kiểm, rút ngắn con đường huy động vốn cho doanh nghiệp

Tăng hậu kiểm, rút ngắn con đường huy động vốn cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

Đọc thêm

Tối ưu hóa hiệu quả của từng đồng ngân sách

Tối ưu hóa hiệu quả của từng đồng ngân sách

(TBTCO) – Việc xây dựng Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ khắc phục sự giao thoa, trùng lặp giữa hai quy trình, hình thành khuôn khổ quản lý thống nhất, xuyên suốt và lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo trong phân bổ, sử dụng từng đồng ngân sách.

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chi ngân sách phải được đánh giá theo hiệu quả đầu ra

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chi ngân sách phải được đánh giá theo hiệu quả đầu ra

(TBTCO) – Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho biết, tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước, gồm cả chi đầu tư công và chi thường xuyên, phải được đánh giá hiệu quả tổng thể theo kết quả đầu ra; đồng thời đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn bảo đảm kiểm tra, giám sát chặt chẽ.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Từng đồng ngân sách chi tiêu đều phải tính đến hiệu quả

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Từng đồng ngân sách chi tiêu đều phải tính đến hiệu quả

(TBTCO) – Phát biểu tại phiên thảo luận tổ sáng 19/8 về định hướng xây dựng Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đổi mới phương thức phân bổ nguồn lực, lập dự toán sát thực tế và đẩy mạnh phân cấp.

Kho bạc Nhà nước chủ động điều hành dòng tiền ngân quỹ

Kho bạc Nhà nước chủ động điều hành dòng tiền ngân quỹ

(TBTCO) – Thu và chi ngân sách không phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời. Có thời điểm nguồn thu đã tập trung về ngân quỹ nhưng nhu cầu chi chưa phát sinh; cũng có lúc ngân sách cần thanh toán trước khi nguồn thu dự kiến về. Khoảng chênh lệch này đặt ra yêu cầu Kho bạc Nhà nước phải chủ động dự báo, cân đối và điều hành dòng tiền, vừa bảo đảm khả năng thanh toán của ngân sách, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công.

Tăng tính minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp

Tăng tính minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) – Các quy định từ chào bán, hoạt động của tổ chức trung gian đến quản lý, giám sát đang tiếp tục được hoàn thiện, hướng tới tăng tính minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu.

Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia với tổng nguồn lực hơn 808.000 tỷ đồng

Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia với tổng nguồn lực hơn 808.000 tỷ đồng

(TBTCO) – Chính phủ đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình tổng thể, với tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng, nguyên tắc là không làm thay đổi mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng và đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo hiệu quả đầu ra.

Xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất

Xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất

(TBTCO) – Dự án Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất được xây dựng nhằm khắc phục sự giao thoa, bất cập, chồng chéo giữa Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công; cắt giảm thủ tục trùng lặp, nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.

Ngành quản lý quỹ tìm động lực mới trên hành trình tới mục tiêu 5% GDP

Ngành quản lý quỹ tìm động lực mới trên hành trình tới mục tiêu 5% GDP

(TBTCO) – Hướng tới mục tiêu giá trị tài sản ròng đạt 5% GDP vào năm 2030, ngành quản lý quỹ cần thêm động lực từ mở rộng sản phẩm, kênh phân phối và khả năng thu hút dòng vốn dài hạn.

Xem thêm

Latest from Blog